Một sợi rơm vàng
Bảo Ngọc
Ấu thơ trong tôi là những tháng ngày bình yên nơi làng quê yêu dấu. Nơi ấy, người mẹ đồng quê đã dang rộng đôi tay đón những bước tinh nghịch của lũ trẻ chúng tôi.Cũng chính nơi ấy, người đã trao cho chúng tôi những sợi rơm vàng đến tận bây giờ vẫn còn ngọt thơm trong kí ức.
Khi mùa gặt rộ, dọc con đường làng tôi thơm dịu mùi rơm rạ. Mùi ngai ngái tươi nồng là của rơm tẻ. Mùi ngọt ngào thơm nức là của rơm nếp. Hương của rạ rơi, mùi ẩm ướt ngai ngái của ruộng đồng quyện vào nhau tạo nên một mùi thơm rất đặc trưng cho làng mạc quê tôi. Dường như hương vị của rơm rạ lan tỏa khắp ngỏ xóm, đường làng và là đặc ân trời ban cho người dân quê sau những ngày hai sương một nắng.
Nhìn những ụ rơm vàng óng chạy dọc hai bên đường là có thể hình dung được cây lúa nặng bông đến chừng nào. Để hạt lúa căng tròn, người dân quê phải mất bao ngày đổ mồ hôi. Từ lúc gieo hạt nhổ mạ, cấy lúa, rồi những ngày hạn hán phải đêm ngày thay nước vào ruộng; những lúc sâu hại lúa, những khi úng lụt lại phải canh chừng tháo nước cho lúa ngoi lên. Đến mùa thu hoạch rồi, nếu trời quang mây tạnh, nắng ráo còn may; nếu trời ngập lụt, lúa đổ không kịp đưa lúa về nhà, lúa sẽ mọc mầm, rơm rạ sau mùa thu hoạch sẽ không còn vàng óng nữa.
Rơm rạ không được ví như hạt ngọc của trời nhưng nó cũng không phải thứ bỏ đi.
Với sự hiến tặng hết mình, những sợi rơm vàng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân quê.
Với những người nghèo thì rơm lúa tẻ không chỉ để lợp nhà che nắng, che mưa. Những ngôi nhà tranh của người dân nghèo thường không phải xây bằng gạch mà xây bằng rơm đấy ! Rơm trộn với bùn để đắp lên tường vách của những ngôi nhà tranh. Ngay cả những người giàu không bao giờ phải lợp nhà dựng nhà bằng rơm, không dùng rơm để đun nấu cũng không thể nói là không cần đến. Bởi lẽ, có người Việt Nam nào lại không có bàn thờ tổ tiên trong ngôi nhà của mình. Trên bàn thờ tổ tiên ấy nhất thiết phải có những bát hương để ta còn thắp nén nhang thơm tỏ lòng tưởng nhớ, tôn kính và biết ơn đối với những người đã khuất. Và trong các bát hương ấy chắc chắn là phải đựng tro bếp, loại tro được cẩn thận đốt từ những sợi rơm nếp vàng óng, mùi thơm đậm như thể được chắc lọc từ tinh túy của đất trời. Cũng bởi sự thiêng liêng này, có thể nói cùng với hạt gạo dẻo thơm, rơm vàng, đặc biệt là rơm nếp cũng là đặc ân trời ban cho người dân quê tôi sau những tháng ngày tảo tân vất vả. Những lúc nông nhàn, người dân quê tôi ngồi quây quần bên nhau, tuốt từng sợi rơm nếp để bện chổi. Mỗi sợi rơm theo tay của con người lại đem đến những việc làm ý nghĩa, dù nhỏ nhưng cũng đủ để truyền dạy cho thế hệ sau biết thấm thía trân trọng công sức của cha ông mình.

Ngoại tôi vẫn còn cái thú quần tụ con cháu lại, vừa tuốt rơm vừa kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Từ những sợi rơm vàng, từng chiếc chổi to nhỏ xinh xắn ra đời. Chúng giản dị mà kì diệu giống như những câu chuyện cổ tích bà kể. Cũng từ những sợi rơm vàng ấy, biết bao hình con trâu, con bò, con ve, con nhện, củ ấu ra đời nhờ bàn tay khéo léo của ngoại tôi. Thật bình dị mà bí ẩn, những sợi rơm vàng đem chúng tôi đến một thế giới vô cùng sống động. Mỗi đứa trẻ chúng tôi như thấy gắn bó hơn với rơm rạ quê mình. Và những sợi rơm vàng cũng dạy chúng tôi cảm nhận được biết bao điều linh thiêng từ những thứ tưởng chừng như vô cùng quen thuộc mà bìn dị.

Những sợi rơm vàng đã chấp cánh cho trí tưởng tượng cho khát vọng tuổi thơ chúng tôi bay cao, bay xa. Dù đã đi xa từ mảnh đất quê mình cho đến tận bây giờ mỗi khi cúi nhìn một sợi rơm vàng, tôi lại như thấy như thấy được được mùi thơm của rạ rơm của đồng quê còn vương vãi trên đôi tay mình, thơm mãi những ngày thơ ấu.